DABACO Assistant
Dabaco-next 30

DABACO nghiên cứu hệ thống đa tầng bảo vệ sức khoẻ đường ruột trên đàn gà mía

Công ty TNHH MTV Gà giống DABACO đã triển khai một hệ thống quản lý sức khỏe đường ruột theo hướng đa tầng trên đàn gà Mía bố mẹ, với trọng tâm là giảm phụ thuộc vào kháng sinh nhưng vẫn duy trì ổn định sức khỏe đàn, nâng hiệu quả sinh trưởng và cải thiện năng suất sinh sản. Kết quả theo dõi cho thấy mô hình này giúp giảm khoảng 90% chi phí sử dụng kháng sinh, đồng thời cải thiện rõ rệt các chỉ tiêu về tăng trọng, tỷ lệ mắc bệnh tiêu hóa, tỷ lệ chết, năng suất trứng và hiệu quả ấp nở. Đây là một hướng đi có ý nghĩa thực tiễn đối với chăn nuôi gia cầm trong bối cảnh yêu cầu về an toàn sinh học, kiểm soát tồn dư và nâng cao hiệu quả sản xuất ngày càng được đặt ra cao hơn.

Tổ chức lại quy trình chăm sóc theo hướng kiểm soát đường ruột

Nghiên cứu được thực hiện trên 2.700 con gà Mía bố mẹ khỏe mạnh, nuôi tại Công ty TNHH MTV Gà giống DABACO trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 11/2025. Đàn gà được bố trí theo 3 công thức, gồm 1 lô đối chứng và 2 lô thí nghiệm, trong cùng điều kiện chuồng trại, chăm sóc và quản lý.

Điểm khác biệt của hai lô thí nghiệm nằm ở hệ giải pháp được DABACO xây dựng đồng bộ quanh mục tiêu bảo vệ sức khỏe đường ruột. Hệ giải pháp này không dừng ở việc bổ sung dinh dưỡng, mà được tổ chức thành một quy trình nhiều lớp, gồm an toàn sinh học chuồng nuôi, kiểm soát môi trường chăn nuôi, chuẩn hóa nguồn nước, khẩu phần ăn thiết kế theo nguyên tắc 3D và bổ sung các thành phần hỗ trợ như axit lactic, khoáng vi lượng, men vi sinh và thảo dược.

Hiệu quả thể hiện từ giai đoạn sinh trưởng

Ở giai đoạn 1–10 tuần tuổi, các lô thí nghiệm (TN) duy trì tốc độ sinh trưởng tốt hơn lô đối chứng. Đến tuần thứ 10, khối lượng gà ở lô đối chứng đạt 1.000,41 g/con, trong khi lô TN1 đạt 1.123,19 g/con và lô TN2 đạt 1.119,20 g/con.

Song song với tăng trọng, các chỉ tiêu sức khỏe đàn cũng cải thiện theo hướng tích cực. Tỷ lệ mắc bệnh đường tiêu hóa ở tuần thứ 10 giảm còn 4,38% tại lô TN1 và 4,46% tại lô TN2, thấp hơn đáng kể so với mức 13,44% của lô đối chứng. Tỷ lệ chết cũng giảm xuống 0,08% và 0,09%, trong khi lô đối chứng ở mức 0,21%.

Chỉ tiêu giai đoạn 1–10 tuần tuổiLô đối chứngTN1TN2
Khối lượng gà tuần 10 (g/con)1.000,411.123,191.119,20
Tỷ lệ mắc bệnh tiêu hoá tuần 10 (%)13,444,384,46
Tỷ lệ chết tuần 10 (%)0,210,080,09

Kết quả kiểm tra vi sinh tiếp tục cho thấy sự khác biệt về chất lượng kiểm soát đàn. Ở các lô thí nghiệm, toàn bộ mẫu kiểm tra đều âm tính với các nhóm vi khuẩn được theo dõi; trong khi lô đối chứng vẫn ghi nhận mẫu dương tính rải rác. Điều này cho thấy việc kết hợp giữa an toàn sinh học, dinh dưỡng tùy chỉnh và hỗ trợ vi sinh không chỉ cải thiện biểu hiện bên ngoài của đàn gà, mà còn tác động trực tiếp đến trạng thái ổn định của hệ vi sinh vật đường ruột.

Nâng hiệu quả sinh sản ở đàn gà bố mẹ

Hiệu quả của mô hình không chỉ dừng ở giai đoạn hậu bị mà còn kéo dài sang giai đoạn sinh sản 21–30 tuần tuổi. Các chỉ tiêu theo dõi cho thấy lô thí nghiệm duy trì tỷ lệ đẻ cao hơn lô đối chứng trong nhiều tuần liên tiếp. Ở giai đoạn đỉnh, tỷ lệ đẻ tại các lô thí nghiệm đạt trên 95%, cao hơn mức khoảng 90–91% của lô đối chứng.

Tính chung trong 45 tuần theo dõi, năng suất trứng ở lô đối chứng đạt 220,05 quả/mái, trong khi lô TN1 đạt 241,38 quả/mái và lô TN2 đạt 242,08 quả/mái. Cùng với đó, chất lượng sinh sản cũng được cải thiện, thể hiện qua tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ nở/phôi và tỷ lệ nở trên tổng trứng ấp đều cao hơn so với đối chứng.

 

Chỉ tiêu giai đoạn sinh sảnLô đối chứngTN1TN2
Năng suất trứng/mái/45 tuần (quả)220,05241,38242,08
Tỷ lệ trứng có phôi (%)93,2797,0396,74
Tỷ lệ nở/phôi (%)93,4296,8295,89
Tỷ lệ nở/tổng trứng ấp (%)84,4788,6788,13

Việc đồng thời cải thiện cả sức khỏe đàn, năng suất trứng và hiệu quả ấp nở cho thấy mô hình quản lý đường ruột nêu trên không chỉ hỗ trợ phòng bệnh, mà còn tác động trực tiếp tới hiệu quả sản xuất của đàn gà giống bố mẹ.

Giảm mạnh sử dụng kháng sinh, kéo dài thời gian khai thác đàn

Nghiên cứu đồng thời theo dõi các nhóm vi khuẩn gồm Clostridium perfringens, Salmonella pullorum, Salmonella gallinarum, Salmonella typhimuriumSalmonella enteritidis. Kết quả kiểm tra cho thấy ở hai lô thí nghiệm, toàn bộ 22/22 mẫu đều âm tính với cả 5 nhóm vi khuẩn được theo dõi. Tại lô đối chứng, số mẫu âm tính lần lượt là 21/22 với Clostridium perfringens, 21/22 với Salmonella pullorum, 20/22 với Salmonella gallinarum, 22/22 với Salmonella typhimurium và 22/22 với Salmonella enteritidis.

 

Tên vi khuẩnĐCTN1TN2
Clostridium perfringens(-)21/22(-)22/22(-)22/22
Salmonella pullorum(-)21/22(-)22/22(-)22/22
Salmonella gallinarum(-)20/22(-)22/22(-)22/22
Salmonella typhimurium(-)22/22(-)22/22(-)22/22
Salmonella enteritidis(-)22/22(-)22/22(-)22/22

 

Theo số liệu theo dõi tại đơn vị, chi phí kháng sinh sau khi áp dụng giải pháp giảm xuống còn 2.050 đồng/con trong năm 2025, tương ứng mức giảm 88,76%. Cùng với đó, hệ số chuyển hóa thức ăn được cải thiện từ khoảng 3,5–3,6 xuống còn 2,8–3,0. Thời gian khai thác đàn gà cũng được kéo dài đến 65 tuần và hướng tới mốc 70 tuần. 

Ứng dụng trong chăn nuôi gà giống

Tại Công ty TNHH MTV Gà giống DABACO, hệ thống quản lý sức khỏe đường ruột theo hướng đa tầng được triển khai trên đàn gà Mía bố mẹ đã đi cùng với những thay đổi cụ thể ở các nhóm chỉ tiêu sinh trưởng, sức khỏe đàn, năng suất sinh sản, kết quả kiểm tra vi sinh vật và chi phí sử dụng kháng sinh. Trên nền chăn nuôi thực tế tại đơn vị, các số liệu theo dõi cho thấy quy trình này được áp dụng xuyên suốt từ giai đoạn sinh trưởng đến giai đoạn sinh sản, gắn với mục tiêu kiểm soát đường ruột, giảm sử dụng kháng sinh và duy trì hiệu quả đàn giống.

Facebook
LinkedIn

Chia sẻ: